Hiển thị các bài đăng có nhãn WCU. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn WCU. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 16 tháng 10, 2010

Có thế chứ, top của VN đây này!


------------------------------
Như các bạn đã biết, tôi đang quan tâm đến xếp hạng đại học, và cứ suốt ngày đọc về ranking với benchmarking, đến là chán.

Chán, là bởi vì chẳng riêng tôi, mà mọi người đều cảm thấy khá … mệt mỏi và vô vọng vì càng hiểu về xếp hạng đại học, về các yếu tố thành công của một trường đẳng cấp quốc tế, thì càng thấy cái mục tiêu lọt vào top 200 vào năm 2020 của một vài trường đại học VN nó mới … bất khả (impossible) làm sao!

Vì 2 điều quan trọng nhất của một trường đại học có đẳng cấp, theo ý tôi, là đội ngũ giảng viên và nhà khoa học giỏi, cùng danh tiếng thông qua các mối quan hệ và tác động với cộng đồng, không chỉ trên phạm vi trong khu vực mà còn toàn thế giới, thì đều không dễ đạt được theo những công thức có sẵn nào, mà đòi hỏi sự sáng tạo, chấp nhận rủi ro, bám sát cuộc sống, và sự kiên trì, bền bỉ – tức là đòi hỏi rất nhiều thời gian.

Cho nên, càng đọc thì tôi càng cảm thấy là chẳng thể có công thức chung nào cho sự thành công hết. Ngoài vài nguyên tắc hoạt động của một trường đại học mà ai cũng biết rồi: tự chủ đại học, tự do học thuật, tự do lựa chọn của người học, và trách nhiệm giải trình của mọi cá nhân, đơn vị đối với xã hội, mà đại diện là một nhà nước dân chủ với hệ thống giám sát minh bạch.

Nói tóm gọn trong vài từ, thì nó là cặp từ mà chúng ta đã nghe từ lâu, có lẽ cả gần 2 thập niên nay từ khi đổi mới giáo dục đại học của VN, đó là “tự chủ và tự chịu trách nhiệm”. Autonomy and accountability.

Vậy chứ cái tựa của entry này là nói đến điều gì đây? À, đang tìm tài liệu về ranking thì tôi lại tìm được global city ranking – xếp hạng thành phố toàn cầu. Và nhìn qua danh sách các thành phố được xếp hạng, bỗng thấy, ngạc nhiên chưa, TP HCM của ta đó!

Ừ thì cũng không có gì đáng nói lắm, vì TP HCM đứng hạng … gần chót, 61/65 thành phố. Nhưng mà … cũng tự hào chứ, vì đó là TP duy nhất của VN được lọt vào danh sách này.

Không những thế, khi nhìn vào phương pháp xếp hạng, ở đây này, thì thấy cũng đáng nể lắm nhé, vì các TP trong danh sách này được xếp hạng theo 25 chỉ số (metrics) thuộc 5 yếu tố sau:

1. Các hoạt động thương mại tại TP, bao gồm giá trị của thị trường tính bằng tiền, số lượng các hãng trong danh sách top 500 của Fortune Global có văn phòng đại diện ở TP, và khối lượng hàng hóa được trao đổi tại TP này.

2. Nguồn vốn nhân lực của TP, bao gồm “kích thước” (size) của dân nhập cư vào thành phố, chất lượng các trường đại học, số lượng các trường quốc tế, và tỷ lệ người dân thành phố có bằng đại học.

3. Sự trao đổi thông tin trong TP, bao gồm số lượng các hãng tin đặt tại TP, mức độ tự do báo chí (chính xác hơn là mức độ không kiểm duyệt), lượng thông tin về thế giới trên các tờ báo hàng đầu của TP, và số lượng người đăng ký sử dụng mạng băng thông rộng (broadband).

4. Trải nghiệm văn hóa tại TP, tức mức độ hấp dẫn về mặt văn hóa của TP đối với dân chúng và khách du lịch. Yếu tố này bao gồm các chỉ số như số lượng các hoạt động lớn văn hóa, thể thao, ẩm thực; các mối quan hệ kết nghĩa với các thành phố khác, vv.

5. Cuối cùng là yếu tố tham gia về chính trị và sự ảnh hưởng đến việc đối thoại và xây dựng chính sách toàn cầu. Làm sao đo được cái này nhỉ? Thì đây: số lượng các đại sứ quán/ lãnh sự quán, các tổ chức quốc tế, các tổ chức nghiên cứu chính sách (think-tank) lớn, và các hội nghị về chính trị mà TP đứng ra tổ chức.

Các bạn cứ thử nhìn kỹ các chỉ số trên kia mà xem kìa, trong 5 yếu tố thì chỉ có 1 yếu tố liên quan đến kinh tế mà thôi, 4 yếu tố khác là nguồn nhân lực, là thông tin, là văn hóa, và là sự tham gia chính trị toàn cầu. Mà yếu tố thứ hai, nguồn nhân lực, cũng nêu hẳn vai trò của các trường đại học nhé. Cho nên nếu TP HCM mà lọt vào được danh sách này thì cũng đáng tự hào chứ bộ. Mà VN chỉ có một mình TP HCM thôi nhé!

Nói thêm: bài viết này của tôi đăng lên đây cũng không lạc đề lắm đâu, vì đã có nhiều nghiên cứu trên thế giới nói đến vị trí địa lý của các trường đại học hàng đầu. Ví dụ như những bài viết này, ở đây, ở đây, và ở đây.

Điều này có nghĩa là gì? Nếu TP HCM là một thành phố toàn cầu, đã lọt vào danh sách xếp hạng cùng với những thành phố quan trọng khác trên thế giới (trong khu vực ĐNA ta thấy ngoài TP HCM còn có Jakarta, Bangkok, Kualar Lumpua, vv), thì khả năng TP HCM sẽ có một (vài?) trường đại học có đẳng cấp trong tương lai chắc là sẽ không đến nỗi vô vọng. Mặc dù có lẽ sẽ không phải là năm 2020. Hy vọng nó sẽ là 20…60, hoặc sớm hơn một chút. Sao không là 2050 nhỉ, vì hiện nay dân Mỹ đang ngồi đoán 2050 thế giới sẽ ra sao đấy.

Có đúng vậy không, hay là tôi đang mơ?

Thứ Năm, 14 tháng 10, 2010

"Muốn có đẳng cấp quốc tế, trước hết cần chất lượng"

Tựa của entry này là phần dịch thoát một phần trong cái tựa của bài viết mới đây của Dr Rahul Choudaha, nguyên văn tiếng Anh là “From where I sit – World-class aims demand quality”. Có thể tìm thấy bài viết ở đây.

Một bài rất hay, và rất phù hợp với VN. Rất đáng đọc, đặc biệt là các nhà quản lý và lãnh đạo trong ngành giáo dục của VN.

Dưới đây là một vài đoạn trích và tóm tắt cùng bình loạn của tôi.
There is no dearth of self-proclaimed world-class institutions in India, even though when claims of world-class faculty, research or infrastructure are benchmarked to global institutions through proxies such as the THE rankings, they fail miserably. Nevertheless, the term "world-class" is loosely used not only by institutions but also by the government. Unfortunately, the recent announcement of the establishment of 14 "innovation universities" meeting world-class standards has yet to move beyond an attractive concept.

Nhận xét của tôi: tình trạng của Ấn Độ được mô tả trong đoạn trích nói trên sao rất giống VN, chỉ toàn là đẳng cấp quốc tế “tự phong”. Well, VN thì chưa có trường nào tự xưng là đẳng cấp quốc tế cả, nhưng những phát biểu theo kiểu “lọt vào top 200 vào năm …” thì không hề ít. Thế nhưng khi đem so sánh (chính xác hơn là “đối sánh”, benchmarked) các trường thuộc loại “top” của VN với những trường đẳng cấp quốc tế (tức nằm trong top 200 của các hệ thống xếp hạng đại học toàn cầu) trên các khía cạnh như chất lượng giảng viên, thành quả nghiên cứu, cơ sở vật chất vv thì … thấy mình chẳng giống ai hết, vậy không hiểu mình sẽ thành đẳng cấp quốc tế như thế nào đây?

Why does India lack world-class universities? It is easy to point to the lack of resources - money and time - needed to build such institutions. More importantly, however, Indian higher education fails to fully recognise the value of the most essential resource in such an endeavour, namely talent. An awareness of the importance of attracting the best talent - students, faculty and administrators - in delivering quality is sorely missing.

Ở đây lại là một điểm giống nhau khác giữa VN và Ấn Độ. Thiếu tiền, thiếu thời gian, OK, nhưng cũng thiếu một điều quan trọng có tính quyết định khác, đó là thiếu tài năng. Tài năng của người học, tài năng của thầy cô, và theo tôi, quan trọng nhất, là tài năng của những nhà quản lý và lãnh đạo ĐH. Thiếu một cách đau đớn, đó là cách nói của tác giả bài viết – “sorely missing”.

[…] India cannot turn its back on access, nor can it afford to waste its higher-education resources by expanding an inefficient system. Continued expansion without a keen focus on quality will merely result in a larger inefficient system. It is time that quality orientation takes precedence, at least in the short term.

One may argue that India has no need of "world-class" higher education institutions, given the country's resource constraints and widening-access priorities. But I believe that India needs exemplars to raise the overall quality of the system and to provide world-class solutions to its many challenges. Building truly excellent universities will require a comprehensive approach to attract and retain top talent.

Cũng giống VN nữa: phát triển giáo dục đại học dựa trên số lượng chứ không dựa trên chất lượng. Tất nhiên số lượng không phải là xấu vì cần phải tạo điều kiện cho mọi người đến trường. Nhưng cũng như Ấn Độ, VN cần một số trường thực sự hàng đầu để làm mẫu mực cho các trường khác học tập và thúc đẩy chất lượng chung của toàn hệ thống.

[…] India cannot turn its back on access, nor can it afford to waste its higher-education resources by expanding an inefficient system. Continued expansion without a keen focus on quality will merely result in a larger inefficient system. It is time that quality orientation takes precedence, at least in the short term.

One may argue that India has no need of "world-class" higher education institutions, given the country's resource constraints and widening-access priorities. But I believe that India needs exemplars to raise the overall quality of the system and to provide world-class solutions to its many challenges. Building truly excellent universities will require a comprehensive approach to attract and retain top talent.

Cũng giống VN nữa: phát triển giáo dục đại học dựa trên số lượng chứ không dựa trên chất lượng. Tất nhiên số lượng không phải là xấu vì cần phải tạo điều kiện cho mọi người đến trường. Nhưng cũng như Ấn Độ, VN cần một số trường thực sự hàng đầu để làm mẫu mực cho các trường khác học tập và thúc đẩy chất lượng chung của toàn hệ thống.

Vậy phải làm gì? Hãy đọc kỹ câu cuối của tác giả mà tôi trích lại ở đây một lần nữa: “Building truly excellent universities will require a comprehensive approach to attract and retain top talent.”

Vâng, thu hút và trọng dụng nhân tài, đừng để họ phải bỏ nghề vì gạo tiền cơm áo. Chẳng biết chính phủ VN có sẽ sớm có chính sách trọng dụng nhân tài không, hay vẫn để cho chất xám tiếp tục tình trạng bị chảy máu?

“Xây dựng trường đại học đẳng cấp quốc tế: Chín sai lầm phổ biến”

Đó là cái tựa đã được biên tập lại của một bài viết của tác giả Salmi, chuyên gia về giáo dục đại học của Ngân hàng thế giới mà tôi đã chọn dịch và gửi đăng trên Tia Sáng. Bài đã được biên tập lại chút ít và đăng cách đây vài ngày, có thể tìm đọc tại đây. Bản gốc tiếng Anh ở đây.

Còn dưới đây là bản gốc chưa qua biên tập của tôi, đưa lên đây để lưu. Các bạn đọc và trao đổi nhé.
-------------------

Chín sai lầm phổ biến khi bắt đầu xây dựng một trường đại học đẳng cấp quốc tế

Jamil Salmi
Phương Anh dịch và giới thiệu

Báo Christian Science Monitor ngày 20/9/2010 đã đưa một bài viết về Việt Nam dưới tựa đề: “Asia’s next economic tiger? Hint: It’s not China or India”, trong đó giới thiệu về trường Đại học Việt – Đức như một mô hình mới trong quản trị đại học Việt Nam. Với mức đầu tư ban đầu là 200 trăm triệu đô la Mỹ và cách điều hành chuyên môn hoàn toàn tự chủ, không chịu sự can thiệp trực tiếp bởi Bộ Giáo dục và Đào tạo, ngôi trường này hy vọng sẽ trở thành một trường đại học nghiên cứu có đẳng cấp của Việt Nam, với chỉ tiêu lọt vào top 200 thế giới vào năm 2020.

Điều này có khả thi không? Cho đến nay, Việt Nam chưa hề có kinh nghiệm thực tế trong việc xây dựng thành công các đại học có đẳng cấp quốc tế, nên không ai có thể trả lời câu hỏi vừa nêu, mà chỉ có thể phỏng đoán và chờ đợi. Tuy nhiên, theo một bài viết vừa đăng trên trang blog The World View của tờ Inside Higher Education vào ngày 22/8/2010 của Jamil Salmi, chuyên gia về giáo dục đại học của Ngân hàng thế giới, tác giả cuốn sách The Challenge of Establishing World Class University do UNESCO xuất bản, “việc xây dựng một cơ sở giáo dục đại học mới với mong muốn đạt tiêu chuẩn cao nhất là một việc làm cao quý nhưng cực kỳ khó khăn”, thậm chí “đầy cạm bẫy”. Điều đáng mừng là cũng theo tác giả thì những cạm bẫy này không phải là không thể tránh được, nếu chúng ta biết học hỏi những kinh nghiệm của những người đi trước, mà tác giả Salmi đã đúc kết lại thành chín sai lầm cần tránh trong bài viết dưới đây.

Xin trân trọng giới thiệu đến tất cả các bạn bài viết hữu ích này, đặc biệt là cho ngành giáo dục của Việt Nam.
--------------
"Cơ hội tạo ra một tổ chức hoàn toàn mới từ hai bàn tay trắng để đi từ ý tưởng đến hiện thực là một món quà quý hiếm. Nó tạo điều kiện cho nhiều việc mà các trường đại học có bề dày truyền thống khó có thể tưởng tượng ra được. Nhưng nó cũng đòi hỏi phải có tầm nhìn, niềm đam mê, và lòng can đảm để cố gắng đổi mới và quyết tâm tạo ra một nền văn hóa học tập mới tốt đẹp hơn".
Richard Miller, Hiệu trưởng Trường ĐH Olin [xem chú thích số 1 ở cuối bài viết].


Thuật ngữ "đại học đẳng cấp quốc tế" đã trở thành một cụm từ thông dụng để mô tả các trường đại học nghiên cứu đỉnh cao trong hệ thống đẳng cấp của giáo dục đại học. Chính phủ các nước đáp lại sự cạnh tranh toàn cầu bằng cách bổ sung kinh phí để thúc đẩy các trường đại học ưu tú của mình, như có thể thấy qua các "sáng kiến xuất sắc" tại nhiều nước có hoàn cảnh khác nhau như Trung Quốc, Đức, Nigeria, Nga, Hàn Quốc, hay Đài Loan. Trong một số trường hợp, chính phủ khuyến khích các trường đại học hàng đầu của mình hợp nhất lại để đạt được hiệu quả kinh tế nhờ mở rộng quy mô . Một vài nước khác thành lập các trường đại học hoàn toàn mới với mục tiêu rõ ràng là tạo ra các trường đẳng cấp quốc tế.

Tuy nhiên, tạo được một trường đại học mới với chất lượng cao là một điều dễ nói khó làm, vì xây dựng một tổ chức tầm cỡ thế giới đòi hỏi nhiều hơn là những phản ứng tức thời nhằm đạt vị trí cao trong các bảng xếp hạng, hoặc bơm thật nhiều tiền vào ngân quỹ của trường. Nó là một quá trình phức tạp và lâu dài mà chỉ mới gần đây người ta mới thực sự quan tâm. Dưới đây là phác thảo những sai lầm phổ biến nhất trong những sáng kiến thiết lập một trường đại học hàng đầu.

1. Xây dựng một khuôn viên tuyệt đẹp, và hy vọng phép lạ sẽ xảy ra.

Cơ sở hạ tầng hẳn nhiên là phần dễ thấy nhất của một trường đại học mới. Người ta chăm chút vào việc thiết kế và xây dựng một công trình ấn tượng, và điều này là cần thiết. Một cơ sở hạ tầng tốt chắc chắn là một phần quan trọng trong trải nghiệm học tập của sinh viên, và các nhà nghiên cứu cũng cần các phòng thí nghiệm đầy đủ để thực hiện nghiên cứu khoa học ở đỉnh cao. Tuy nhiên, nếu không có cách quản trị thích hợp, đội ngũ lãnh đạo mạnh, chương trình giảng dạy được xây dựng kỹ lưỡng, cùng đội ngũ giảng viên/ nghiên cứu viên có trình độ, thì một khuôn viên xinh đẹp cũng chỉ là một cái vỏ rỗng.

2. Chỉ thiết kế các chương trình sau khi xây dựng cơ sở vật chất.

Có một giả định thường gặp rằng việc dạy - học có thể dễ dàng thích ứng với bất cứ cơ sở vật chất nào, nhưng thực ra những phương pháp sư phạm tân tiến đòi hỏi phải có cơ sở vật chất phù hợp. Ví dụ, các phương pháp tiếp cận tương tác, học tập dựa trên vấn đề, hoặc các phương pháp làm việc theo nhóm và học tập đồng cấp (peer learning) thường bị hạn chế bởi các giới hạn vật lý của các giảng đường và lớp học thông thường. Tầm nhìn, sứ mạng, và kế hoạch dạy - học cần được xác định trước khi xây dựng cơ sở hạ tầng để cái sau được điều chỉnh phù hợp với các yêu cầu của cái trước, chứ không phải là ngược lại

3. Nhập khẩu nội dung giảng dạy từ một nơi khác. Việc gì phải phát minh lại cái bánh xe?

Các nhóm phụ trách việc thiết lập các trường đại học mới thường nhìn vào các trường đại học hàng đầu của các nước công nghiệp phát triển để "mua" các yếu tố trong chương trình giảng dạy của họ thay vì phải trải qua một quá trình lâu dài nhằm thiết kế các chương trình của riêng mình. Mặc dù điều này có vẻ thiết thực và thực tế, đó không phải là cách hiệu quả nhất để xây dựng văn hóa học tập của một trường đại học mới đạt chuẩn mực cao. Các trường hàng đầu của thế giới như Harvard và MIT là các tổ chức mang tính đơn nhất, nên sẽ là không thực tế khi nghĩ rằng có thể tái tạo mô hình học thuật của những trường này ở nơi khác. Và cũng không thực tế khi hình nghĩ rằng có thể cóp nhặt từng mảnh ghép của các trường đại học có uy tín từ những quốc gia và các nền văn hóa khác nhau rồi giả định rằng các mảnh này sẽ ăn khớp lại với nhau để tạo ra một nền văn hóa học thuật và nghiên cứu trong các trường đại học mới.

4. Thiết kế để áp dụng trong “hệ sinh thái học thuật” của các nước OECD, thực hiện ở nơi khác.

Sao chép những đặc điểm cụ thể vốn làm cho các trường đại học hàng đầu ở Bắc Mỹ và Châu Âu thành công – sự tập trung tài năng, nguồn lực phong phú và quản trị phù hợp – là cần thiết nhưng chưa đủ để tạo ra một trường đại học tầm cỡ thế giới. Sẽ rất khó khăn nếu muốn nói là không thể duy trì sự phát triển của các trường đại học khi sinh thái giáo dục đại học của đất nước không hoàn toàn thuận lợi cho sự phát triển ấy. Các yếu tố chính của một hệ sinh thái học thuật bao gồm sự lãnh đạo ở tầm quốc gia (tầm nhìn cho tương lai của giáo dục đại học, năng lực thực hiện cải cách), khuôn khổ pháp lý (cơ cấu quản trị và các quá trình quản lý ở cấp quốc gia và đơn vị), khung đảm bảo chất lượng, các cơ chế tích hợp cho các loại hình tổ chức đại học khác nhau, nguồn lực tài chính và cơ chế khuyến khích phù hợp, kèm theo cơ sở hạ tầng kỹ thuật cần thiết. Sự thiếu vắng của dù chỉ một trong những yếu tố này hoặc sự thiếu đồng bộ giữa các chiều kích khác nhau có khả năng làm giảm tiềm năng phát triển và tồn tại bền vững của các trường đại học mới.

5. Chậm trễ trong việc tạo ra một Hội đồng Quản trị và bổ nhiệm đội ngũ lãnh đạo.

Việc tạo ra một trường đại học mới thường là một quyết định chính trị của giới lãnh đạo, sau đó giao cho một Bộ hoặc một ban dự án kỹ thuật triển khai thực hiện. Điều này thường làm cho việc thiết kế và quy trình triển khai chịu sự quản lý trực tiếp của trung ương. Một dự án tầm cỡ như vậy cần được sở hữu và thực hiện bởi một đội ngũ lãnh đạo năng động, làm việc dưới quyền của một Hội đồng độc lập có khả năng đưa ra những hướng dẫn và sự trao quyền. Một cơ cấu quản trị thích hợp ngay từ đầu là điều rất quan trọng để thành công.

6. Chỉ lập kế hoạch cho những chi phí trước mắt, mà quên đi sự ổn định tài chính lâu dài hạn.

Những người bảo trợ sáng lập một trường đại học mới thường công bố một khoản hiến tặng rất lớn cho việc thành lập trường, nhưng chỉ có vốn đầu tư ban đầu thì không đủ. Cần phải cung cấp đầy kinh phí cho những năm đầu hoạt động trong khi chờ đợi thiết lập được một mô hình kinh doanh đảm bảo rằng tổ chức mới có thể duy trì được chính nó.

7. Đưa ra những chỉ tiêu định lượng quá tham vọng.

Lãnh đạo của các trường đại học mới đôi khi nghĩ rằng họ có thể nhanh chóng tuyển được một số lượng lớn sinh viên, thông thường con số được nghĩ đến là cả chục ngàn. Điều này hiếm khi đạt được mà không ảnh hưởng xấu đến chất lượng. Trong thập niên 1970, tác giả E. F. Schumacher đã viết trong cuốn sách có tựa “Nhỏ là đẹp" rằng các dự án phát triển thành công thường có kích thước nhỏ. Ngày nay điều đó vẫn đúng, đặc biệt là khi xây dựng một trường đại học mới. Nếu chất lượng là vấn đề ưu tiên thì hầu như chỉ nên bắt đầu với một số ít chương trình đào tạo và ít sinh viên. Khi một nền văn hóa học thuật xuất sắc đã được thiết lập thì việc mở rộng dễ dàng hơn.

8. Nghĩ rằng bạn có thể làm tất cả trong vòng mười tám tháng.

Một kế hoạch tham vọng quá mức sẽ tưởng tượng rằng một trường đại học mới có thể được đưa ra hoạt động sau vài tháng và chất lượng cao trong giảng dạy và nghiên cứu có thể được thực hiện trong vòng vài năm. Vội vã trong những bước phát triển ban đầu có thể dẫn đến những quyết định có ảnh hưởng xấu đến chất lượng và chi phí. Xây dựng một trường đại học tất yếu phải là một quá trình lâu dài, đòi hỏi lãnh đạo ổn định, cải tiến liên tục, và sự kiên nhẫn. Điều này đặc biệt đúng khi muốn phát triển những truyền thống khoa học mạnh, rất cần thiết để tạo ra những nghiên cứu mũi nhọn và các ứng dụng công nghệ.

9. Chỉ dựa vào các học giả nước ngoài mà không vun đắp năng lực tại địa phương.

Thuê các học giả nước ngoài là cách làm phổ biến để tăng tốc độ khởi động của một trường đại học mới. Thật vậy, đưa các giáo viên giàu kinh nghiệm và các nhà nghiên cứu đến để giúp đỡ một trường mới là hợp lý, và đó cũng có thể là một chiến lược nâng cao năng lực hiệu quả nếu các học giả này không chỉ nghiên cứu, giảng dạy mà còn có nhiệm vụ đào tạo lớp học giả trẻ hơn và ít kinh nghiệm hơn ở nước sở tại. Nhưng nó có thể là một chiến lược phản tác dụng nếu không có những nỗ lực mang tính hệ thống nhằm thu hút và giữ chân các học giả có trình độ trong nước.

Để kết luận, việc đưa ra một cơ sở giáo dục đại học mới với mong muốn đạt tiêu chuẩn cao nhất là một việc làm cao quý nhưng cực kỳ khó khăn. Con đường để đạt được sự xuất sắc trong học thuật thì đầy cạm bẫy, mặc dù những cạm bẫy này không phải là không thể tránh được, như đã được minh họa trong những phần trên của bài viết. Quan trọng hơn, quyết định xây dựng một trường đại học đẳng cấp quốc tế luôn phải được xem xét trong bối cảnh thích hợp để đảm bảo sự gắn kết với chiến lược giáo dục đại học của đất nước và tránh sự lệch lạc trong phân bổ nguồn lực trong ngành. Tuy nhiên, nếu có một kế hoạch chu đáo và thực tế, việc đạt được sự xuất sắc trong giáo dục đại học luôn có thể được xem như là một mục tiêu xứng đáng và quan trọng.
-------
Chú thích 1:

Richard Miller là Hiệu trưởng của Franklin W. Olin College of Engineering (thường được gọi tắt là Olin College), một đại học tư phi lợi nhuận với tuổi đời khá non trẻ, chỉ mới bắt đầu hoạt động từ năm 2002. Tuy vậy, trong lịch sử ngắn ngủi đó Olin College đã tạo được danh tiếng cho mình, và được xếp hạng trong top 10 những chương trình kỹ thuật tốt nhất nước Mỹ (dành cho các trường nhỏ, không đào tạo tiến sĩ) theo bảng xếp hạng của US News and World Report năm 2010. Lý lịch trích ngang của Richard Miller có thể tìm được ở đây: http://www.olin.edu/faculty_staff/leadership_team_bios/miller.html, truy cập ngày 3/10/2010.

Chú thích 2:
Có thể tìm đọc nguyên văn cuốn sách The Challenge of Establishing World Class University do UNESCO xuất bản ở đây, rất đáng đọc.

Chủ Nhật, 10 tháng 10, 2010

"Thực trạng của 'Đại học đẳng cấp quốc tế'"

Đó là tựa bài viết mới trên báo Thanh Niên hôm nay, ở đây.

ĐH đẳng cấp quốc tế cũng là vấn đề tôi quan tâm từ mấy năm nay. Nó được khơi nguồn từ "quyết tâm chính trị" của nhà nước VN trong việc cố gắng xây dựng một vài đại học tốt "ngang tầm khu vực và thế giới" để phục vụ sự phát triển kinh tế, xã hội của VN.

Xây trường mới thì luôn luôn tốt, tôi nghĩ vậy. Xây đại học lại càng tốt, mà nếu đó là đại học đẳng cấp quốc tế nữa, thì còn gì bằng! Cho nên trước hết là tôi ủng hộ hết mình việc xây dựng mấy đại học đẳng cấp quốc tế đó. Ủng hộ hai tay, hai chân, không thắc mắc. Ai mà chống việc xây các đại học đó, là tôi phản đối ngay, không do dự gì cả. Đầu tư vào giáo dục là đầu tư vào tương lai mà lại. Ai, chứ người Việt Nam thì chắc rành điều này lắm: học để thoát nghèo!

Vậy tóm lại, là tôi ủng hộ việc xây dựng các đại học đẳng cấp quốc tế. Mà không chỉ 4, nếu nhiều hơn 4, ví dụ như 40, hay thậm chí 400 (!), thì càng tốt!

Vấn đề là làm như thế nào thôi! Làm như thế nào để đạt được 3 yêu cầu, như hệ thống ĐH của bang California đã đề ra như những phương châm hoạt động của mình, đó là: quality - equity - efficiency. Chất lượng, công bằng, hiệu quả (ở đây là hiệu quả kinh tế, hay hiệu suất, tức không lãng phí ấy).

Và tôi vẫn có chút nghi ngại về mấy trường ĐH đẳng cấp quốc tế của mình. Tôi e chúng có thể đạt được cái đầu tiên - quality, nhưng không tin rằng chúng sẽ đạt được 2 cái sau. Nhất là equity, sự công bằng. Vì chưa cảm thấy con nhà nghèo có thể có điều kiện vào học ở mấy trường đó, khi học phí của chúng tính bằng vài ngàn đô một năm. Không hề dễ cho những học sinh có tiềm năng ở, ví dụ, vùng đồng bằng sông Cửu Long, là một vùng mà không hiểu sao tôi cứ thấy thương thương, gắn bó, dù quê gốc của tôi là ở miền Bắc. Hoặc, tất nhiên, mọi vùng sâu vùng xa và các địa phương nghèo khác của VN.

Và efficiency, hiệu suất kinh tế, sử dụng tiền đầu tư không lãng phí theo kiểu, ví dụ (hoàn toàn tưởng tượng), xây cơ sở vật chất hiện đại khang trang đủ cho 2000 sinh viên, nhưng chỉ hoạt động cho 200 sinh viên. Lãng phí phòng ốc, lãng phí cả đất đai, cả thư viện, cả thiết bị vv vì sử dụng không hết công suất. Và lãng phí cả con người nữa, vì ban bệ cho một trường dù chỉ 200 sinh viên cũng phải đủ hết từ ban giám hiệu đến phòng đào tạo, các khoa, phòng công tác sinh viên vv và vv. Chưa kể lãng phí về tài chính, cái này thì tôi không rành và không thể nghĩ ra được ví dụ ở đây.

Tại sao tôi lại nghi ngại, mà không chịu tin vào nhà nước, vì chúng ta cũng có một hệ thống quản lý và giám sát đầy đủ của nhà nước cơ mà? Thưa, là vì trước giờ công tác giám sát chúng ta làm chưa tốt, nên niềm tin ấy của tôi vẫn còn ... yếu lắm, không đủ lấn át sự nghi ngại của tôi.

Những suy nghĩ ấy là có thật, nên khi trao đổi với phóng viên của báo Thanh Niên, tôi cứ nói thẳng những suy nghĩ của mình ra. Và nó đã được đưa lên báo, hôm nay.

Chẳng biết có làm cho ai phiền không? Cái nhìn của một cá nhân, là tôi đây, chắc chắn sẽ có ít nhiều phiến diện. Tôi không có ý định nói là mình hoàn toàn đúng. Chỉ là những băn khoăn từ góc nhìn của tôi. Nhưng cũng cứ đưa ra, hy vọng sẽ có người nghe, và nếu điều tôi nói là đúng, thì nó cũng chỉ là góp thêm tiếng nói của người dân để cùng tìm ra giải pháp chung mà thôi.

Ôi, ước mơ đẳng cấp quốc tế của giáo dục đại học VN, chắc là còn xa vời, khó khăn lắm. Nhưng cũng cứ phải bắt đầu ở đâu đó. Và nó đang được bắt đầu đây thôi, ở 2 trường trên 2 đầu của đất nước. Hãy chờ xem.