Hôm qua tôi có viết một entry trong đó có nêu lên giả thuyết của tôi là "đạo văn là một vấn đề văn hóa".
Tôi chưa thực sự chứng minh điều này, cũng chưa đưa ra những lập luận đến nơi đến chốn, nhưng tôi vẫn tin là nếu đạo văn không hoàn toàn có nguồn gốc từ văn hóa, thì văn hóa cũng có một ảnh hưởng quan trọng đến thói quen đạo văn của những người sống trong nền văn hóa đó.
Mà đã là văn hóa, thì nó thấm vào máu rồi, sửa không dễ! Vậy nếu chúng ta muốn thay đổi để phù hợp với thói quen và thông lệ của thế giới, thì cần làm gì nhỉ?
Thay vì phải tìm lại châu Mỹ lần thứ hai, tôi nghĩ chúng ta hãy cứ tìm xem các nước trên thế giới họ làm việc này như thế nào. Tôi nghĩ, dễ nhất là chúng ta bắt đầu ở trường đại học, vì đây là nơi mà người học bắt đầu được tập tành để trở thành những nhà khoa học, những trí thức thực sự cho đất nước.
Mà nếu thế thì dễ quá, các trường đại học Âu-Mỹ họ đã có cách làm rất cẩn thận, hoàn chỉnh. Chỉ cần xem cách họ làm, rồi phán đoán xem cách nào dễ áp dụng ở VN nhất, thì áp dụng thôi.
Dưới đây là một vài đường links mà tôi nghĩ là có ích:
1. Plagiarism: How to Avoid it. Là những hướng dẫn dành cho người học để tránh "đạo văn không cố tình" (inadvertant plagiarism, hình như thế). Ở đây.
2. Education, not ethics. Bài viết của Susan Blum, một tác giả khá nổi tiếng khi bàn về đạo văn và văn hóa. Trên tờ Chronicle of Higher Education. Ở đây.
3. Plagiarism stoppers. Dành cho các giảng viên muốn ngăn chặn đạo văn. Ở đây.
4. Plagiarism workshop. Có thể dùng tài liệu này để làm workshop cho sinh viên. Ở đây.
7. Plagiarism and paper mills. Từ dùng rất hay: paper mills. Nó dùng để chỉ mấy loại tài liệu theo kiểu bài văn mẫu. Ở đây.
Đại khái thế. Các bạn đọc xong thì chia sẻ ý kiến với mọi người nhé.
Hiển thị các bài đăng có nhãn intelproperty. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn intelproperty. Hiển thị tất cả bài đăng
Thứ Tư, 27 tháng 10, 2010
Văn hóa đạo văn?
Entry này tôi viết tản mạn, chủ yếu là để lưu lại những đường dẫn đến những bài viết có liên quan đến một vấn đề mà tôi quan tâm đã lâu, đó là khía cạnh văn hóa của việc đạo văn.
Câu hỏi mà tôi tự đặt ra cho mình đã lâu, là phải chăng đạo văn có nguồn gốc từ văn hóa? Vì rõ ràng là các nước châu Á có thói quen đạo văn cao hơn nhiều so với các nước Âu-Mỹ. Và cả người đạo lẫn người bị đạo đều ... xem đó là việc bình thường (!?). Ừ thì thực ra cũng không hoàn toàn bình thường, nhưng tôi có một kinh nghiệm nho nhỏ về việc phát hiện văn của mình bị đạo, và phản ứng - tất nhiên cũng không nhẹ nhàng lắm, vì rất bực do sự việc lập đi lập lại nhiều lần, thì dường như dư luận cũng không ít người cho rằng tôi đã quá nhẫn tâm với đồng nghiệp. Nói cách khác, việc đạo văn ấy, có gì đâu mà ầm ĩ! Vậy đấy.
Khi đa số mọi người cùng chia sẻ một cách nghĩ, một cách làm, không cần tự hỏi tại sao mình lại làm như thế (vì ai cũng làm thế mà), thì đó là văn hóa. Vậy khi đa số ai cũng đạo văn, và nghĩ rằng việc ấy có gì đâu mà rộn, nó cũng bình thường thôi (!), thì điều đó nếu không gọi là văn hóa đạo văn thì gọi là gì chứ? Nếu vậy, rõ ràng là châu Á có văn hóa đạo văn. Cái này không chỉ tôi nghĩ, mà nhiều người đã viết như vậy. Đó là lý do tại sao tôi có entry này: để lưu những links dẫn đến những bài viết về văn hóa đạo văn của châu Á.
Vậy thì đây:
1. A Culture of Plagiarism - thấy chưa, tựa bài bằng tiếng Anh cũng đúng là văn hóa đạo văn đấy nhé, có phải tôi "chế" ra cụm từ này đâu. Đọc ở đây. Bài này nói về đạo văn ở Indonesia. Còn dưới đây là vài đoạn trích đáng lưu ý:
2. China must protect intellectual property. Nói về TQ (of course!). Đọc ở đây. Và những đoạn trích đáng lưu ý:
3. Plagiarism controversy. Ở đây. Nói về đạo văn ở Hàn Quốc (đấy, một nước phát triển như Hàn Quốc vẫn cứ có đạo văn, chứ chẳng phải chỉ là chuyện của nước nghèo nữa, vậy phải chăng đó là vấn đề văn hóa?)
Bài viết này đáng lưu ý vì có viết về các loại đạo văn, trong đó có "tự đạo văn" (self-plagiarism) tức là cùng một ý tưởng/ câu chữ của mình nhưng sử dụng nhiều lần ở nhiều nơi mà không có trích dẫn; và đứng tên "đồng tác giả" (co-authorship) mà thực ra chẳng có đóng góp công sức bao nhiêu vào tác phẩm.
Gì chứ 2 loại đạo văn mới nêu (đồng tác giả và tự đạo văn) thì ở VN vô cùng phổ biến, và theo tôi thì cho đến nay chưa thấy ai phản ứng về mấy việc này cả! Có phải lại là vấn đề văn hoá đó chăng?
4. Internet has created culture of plagiarism in universities. Đây là chuyện Mỹ. Đọc ở đây. Đấy, lại một bằng chứng rằng đạo văn là văn hóa.
5. Wang Hui, plagiarism, and the Great Bourgois Academic Cultural Revolution. Ở đây. Lại là chuyện TQ. Hình như văn hóa đạo văn bắt nguồn từ TQ thì phải? Nhưng hình như mọi việc đang thay đổi? Một cuộc CM văn hóa mới? Bài rất đáng đọc.
6. Cultural insight can help tackle plagiarism. Ở đây. Cái tựa rất hay, vì nó ... trùng với ý của tôi. ;-) Bài trên Times Higher Education.
Tạm thời thế đã. Nói vắn tắt: Có thể tin đạo văn là một vấn đề văn hóa. Và để thay đổi một yếu tố văn hóa thì rõ ràng không hề dễ. Phải có những giải pháp đồng bộ, và sự kiên trì. Ôi, tôi không muốn VN lọt vào hàng ... có hạng về đạo văn, giống như một vài nước anh em trong khu vực châu Á này của chúng ta đâu ạ!
Câu hỏi mà tôi tự đặt ra cho mình đã lâu, là phải chăng đạo văn có nguồn gốc từ văn hóa? Vì rõ ràng là các nước châu Á có thói quen đạo văn cao hơn nhiều so với các nước Âu-Mỹ. Và cả người đạo lẫn người bị đạo đều ... xem đó là việc bình thường (!?). Ừ thì thực ra cũng không hoàn toàn bình thường, nhưng tôi có một kinh nghiệm nho nhỏ về việc phát hiện văn của mình bị đạo, và phản ứng - tất nhiên cũng không nhẹ nhàng lắm, vì rất bực do sự việc lập đi lập lại nhiều lần, thì dường như dư luận cũng không ít người cho rằng tôi đã quá nhẫn tâm với đồng nghiệp. Nói cách khác, việc đạo văn ấy, có gì đâu mà ầm ĩ! Vậy đấy.
Khi đa số mọi người cùng chia sẻ một cách nghĩ, một cách làm, không cần tự hỏi tại sao mình lại làm như thế (vì ai cũng làm thế mà), thì đó là văn hóa. Vậy khi đa số ai cũng đạo văn, và nghĩ rằng việc ấy có gì đâu mà rộn, nó cũng bình thường thôi (!), thì điều đó nếu không gọi là văn hóa đạo văn thì gọi là gì chứ? Nếu vậy, rõ ràng là châu Á có văn hóa đạo văn. Cái này không chỉ tôi nghĩ, mà nhiều người đã viết như vậy. Đó là lý do tại sao tôi có entry này: để lưu những links dẫn đến những bài viết về văn hóa đạo văn của châu Á.
Vậy thì đây:
1. A Culture of Plagiarism - thấy chưa, tựa bài bằng tiếng Anh cũng đúng là văn hóa đạo văn đấy nhé, có phải tôi "chế" ra cụm từ này đâu. Đọc ở đây. Bài này nói về đạo văn ở Indonesia. Còn dưới đây là vài đoạn trích đáng lưu ý:
With an avalanche of plagiarism cases here, we have unwittingly nurtured a culture of plagiarism. In fact, the habit of copying one’s intellectual property is deeply rooted in our education. A simple case is a teacher who is fond of asking the students to provide answers of an exam in line with the materials provided to be memorised.
A number of studies on plagiarism have suggested that plagiarism is culturally rooted, and that understanding plagiarism under the framework of culture can provide useful insights into how it is perceived differently by different cultures.
2. China must protect intellectual property. Nói về TQ (of course!). Đọc ở đây. Và những đoạn trích đáng lưu ý:
In China, production of goods bearing counterfeit brands as well as pirated music, films and game software is flourishing as a full-blown industry.Mở ngoặc một chút: như thế này thì chẳng phải chính nền văn hóa ở đây đã sinh ra những người đạo văn sao?
[...]
Even if one demands compensation for copyright infringement in a trial in China, one will be able to win only a minimum amount of money, a pattern that apparently fails to deter infringement of intellectual property.
[...]
[...] because creators in China, such as lyricists and composers, do not receive sufficient reward for their own works, they are believed to have little sense of guilt in copying other people's works.
3. Plagiarism controversy. Ở đây. Nói về đạo văn ở Hàn Quốc (đấy, một nước phát triển như Hàn Quốc vẫn cứ có đạo văn, chứ chẳng phải chỉ là chuyện của nước nghèo nữa, vậy phải chăng đó là vấn đề văn hóa?)
Bài viết này đáng lưu ý vì có viết về các loại đạo văn, trong đó có "tự đạo văn" (self-plagiarism) tức là cùng một ý tưởng/ câu chữ của mình nhưng sử dụng nhiều lần ở nhiều nơi mà không có trích dẫn; và đứng tên "đồng tác giả" (co-authorship) mà thực ra chẳng có đóng góp công sức bao nhiêu vào tác phẩm.
Gì chứ 2 loại đạo văn mới nêu (đồng tác giả và tự đạo văn) thì ở VN vô cùng phổ biến, và theo tôi thì cho đến nay chưa thấy ai phản ứng về mấy việc này cả! Có phải lại là vấn đề văn hoá đó chăng?
4. Internet has created culture of plagiarism in universities. Đây là chuyện Mỹ. Đọc ở đây. Đấy, lại một bằng chứng rằng đạo văn là văn hóa.
5. Wang Hui, plagiarism, and the Great Bourgois Academic Cultural Revolution. Ở đây. Lại là chuyện TQ. Hình như văn hóa đạo văn bắt nguồn từ TQ thì phải? Nhưng hình như mọi việc đang thay đổi? Một cuộc CM văn hóa mới? Bài rất đáng đọc.
6. Cultural insight can help tackle plagiarism. Ở đây. Cái tựa rất hay, vì nó ... trùng với ý của tôi. ;-) Bài trên Times Higher Education.
Tạm thời thế đã. Nói vắn tắt: Có thể tin đạo văn là một vấn đề văn hóa. Và để thay đổi một yếu tố văn hóa thì rõ ràng không hề dễ. Phải có những giải pháp đồng bộ, và sự kiên trì. Ôi, tôi không muốn VN lọt vào hàng ... có hạng về đạo văn, giống như một vài nước anh em trong khu vực châu Á này của chúng ta đâu ạ!
Thứ Tư, 28 tháng 7, 2010
Luật sở hữu trí tuệ và quyền tác giả
Nhân có cuộc tranh luận "nảy lửa" về đạo văn trong một đề thi trong kỳ thi TS ĐH gần đây, tôi thấy cần nhắc lại cho mọi người về Luật sở hữu trí tuệ của VN.
Vì tôi thấy trong cuộc tranh luận này, nếu cần phân xử ai đúng ai sai, thì chưa cần áp dụng đến luật lệ của nước ngoài, mà chỉ cần áp dụng luật của VN, thì cũng hoàn toàn có thể kết luận được rồi.
Dưới đây là những thông tin có liên quan, cần quan tâm:
Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam sửa đổi, bổ sung 2009
Luật số 36/2009/QH12 của Quốc hội Việt Nam, thông qua ngày 19 tháng 6 năm 2009, để sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam 2005. Luật này có hiệu lực từ ngày 1 tháng 1 năm 2010.
Phần thứ nhất: Những quy định chung (Điều 1 - 12)
Phần thứ hai: Quyền tác giả và Quyền liên quan (Điều 13 - 57)
Phần thứ ba: Quyền sở hữu công nghiệp (Điều 58 - 156)
Phần thứ tư: Quyền đối với giống cây trồng (Điều 157 - 197)
Phần thứ năm: Bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ (Điều 198 - 219)
Phần thứ sáu: Điều khoản thi hành (Điều 220 - 222)
---
Phần thứ nhất
Điều 2. Đối tượng áp dụng
Luật này áp dụng đối với tổ chức, cá nhân Việt Nam; tổ chức, cá nhân nước ngoài đáp ứng các điều kiện quy định tại Luật này và điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.
Điều 3. Đối tượng quyền sở hữu trí tuệ
Đối tượng quyền tác giả bao gồm tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học; đối tượng quyền liên quan đến quyền tác giả bao gồm cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hoá.
[...]
Điều 4. Giải thích từ ngữ
Trong Luật này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:
1. Quyền sở hữu trí tuệ là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tài sản trí tuệ, bao gồm quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng.
2. Quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu.
3. Quyền liên quan đến quyền tác giả (sau đây gọi là quyền liên quan) là quyền của tổ chức, cá nhân đối với cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hóa.
[...]
Điều 6. Căn cứ phát sinh, xác lập quyền sở hữu trí tuệ
Quyền tác giả phát sinh kể từ khi tác phẩm được sáng tạo và được thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định, không phân biệt nội dung, chất lượng, hình thức, phương tiện, ngôn ngữ, đã công bố hay chưa công bố, đã đăng ký hay chưa đăng ký.
[...]
Phần thứ hai, Chương II
Mục 1. NỘI DUNG, GIỚI HẠN QUYỀN, THỜI HẠN BẢO HỘ QUYỀN TÁC GIẢ
Điều 18. Quyền tác giả
Quyền tác giả đối với tác phẩm quy định tại Luật này bao gồm quyền nhân thân và quyền tài sản.
Điều 19. Quyền nhân thân
Quyền nhân thân bao gồm các quyền sau đây:
1. Đặt tên cho tác phẩm;
2. Đứng tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm; được nêu tên thật hoặc bút danh khi tác phẩm được công bố, sử dụng;
3. Công bố tác phẩm hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm;
4. Bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm, không cho người khác sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả.
Điều 20. Quyền tài sản
Quyền tài sản bao gồm các quyền sau đây:
a) Làm tác phẩm phái sinh;
b) Biểu diễn tác phẩm trước công chúng;
c) Sao chép tác phẩm;
d) Phân phối, nhập khẩu bản gốc hoặc bản sao tác phẩm;
đ) Truyền đạt tác phẩm đến công chúng bằng phương tiện hữu tuyến, vô tuyến, mạng thông tin điện tử hoặc bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào khác;
e) Cho thuê bản gốc hoặc bản sao tác phẩm điện ảnh, chương trình máy tính.
Các quyền quy định tại khoản 1 Điều này do tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả độc quyền thực hiện hoặc cho phép người khác thực hiện theo quy định của Luật này.
Tổ chức, cá nhân khi khai thác, sử dụng một, một số hoặc toàn bộ các quyền quy định tại khoản 1 Điều này và khoản 3 Điều 19 của Luật này phải xin phép và trả tiền nhuận bút, thù lao, các quyền lợi vật chất khác cho chủ sở hữu quyền tác giả.
----
Và dưới đây là cách hiểu của tôi. Nếu tôi hiểu sai, diễn giải sai luật, xin mọi người góp ý nhé. Xin nói trước: tôi không phải là luật gia, luật sư chi cả, chỉ là một công dân cố gắng sống và làm việc theo pháp luật. Như nhà nước VN vẫn kêu gọi. Vả lại, tôi đang là viên chức, làm việc trong khu vực công, lại là giảng viên, nên phải cố gắng sống đúng pháp luật, không thể khác được.
1. Bài đọc trong đề thi, nếu không phải do người làm đề thi tự viết ra, thì rõ ràng phải lấy của người khác.
2. Đoạn văn dùng làm bài đọc đó chắc chắn phải lấy trong 1 tác phẩm văn học, tác phẩm/công trình khoa học, hoặc từ báo chí - chà, mà không hiểu các bài báo được liệt vào loại nào nhỉ, tác phẩm văn học, hay công trình khoa học(?), hay tác phẩm nghệ thuật? Nhưng dù gì thì chúng cũng là những tác phẩm có tác giả hẳn hoi (dù khuyết danh, hay hữu danh).
3. Các tác giả của các tác phẩm, công trình này đều được bảo hộ bởi luật sở hữu trí tuệ của VN.
4. Như vậy, các tác giả này có các quyền được nêu trong điều 18, tức quyền nhân thân và quyền tài sản.
5. Xin được nhắc lại về quyền nhân thân: quyền đứng tên trên tác phẩm (tức ai sử dụng phải dẫn nguồn), công bố hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm (tức ai muốn công bố ở đâu đều phải xin phép), bảo vệ vẹn toàn của tác phẩm (tức không cho phép ai sửa chữa, cắt xén ...)
6. Cũng xin nhắc về quyền tài sản: ai muốn sử dụng phải trả thù lao (khoản này có thể miễn nếu dùng vào mục đích cá nhân, hoặc phi lợi nhuận, nhưng phải thỏa thuận với tác giả).
Như vậy, chỉ cần áp dụng luật VN thôi, thì đã có thể kết luận được về vấn đề GS Tuấn đặt ra rồi, phải không?
Có lẽ không cần tranh cãi nữa. Như tôi đã nói trên báo TN, chúng ta cần nghiêm túc rút kinh nghiệm và sửa sai để sau này không xảy ra những vụ như thế này nữa. Thử nghĩ, nếu ai đó đem ta ra kiện vì vi phạm quyền sở hữu trí tuệ thì sao nhỉ?
Cũng cần nhớ, Luật này được xây dựng vào năm 2005 để chuẩn bị cho VN gia nhập WTO. Cho nó giống với mọi người, vì nếu một mình VN một luật thì chẳng ai chơi với mình. Sau đó, khi áp dụng thấy có những chỗ chưa ổn, Luật SHTT đã được bổ sung, sửa chữa năm 2009 và áp dụng đầu năm 2010 (mà tôi đã trích dẫn ở trên).
Chẳng lẽ luật chỉ để cho có sao? Hay là được gia nhập WTO rồi thì không cần đến luật nữa?
Vì tôi thấy trong cuộc tranh luận này, nếu cần phân xử ai đúng ai sai, thì chưa cần áp dụng đến luật lệ của nước ngoài, mà chỉ cần áp dụng luật của VN, thì cũng hoàn toàn có thể kết luận được rồi.
Dưới đây là những thông tin có liên quan, cần quan tâm:
Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam sửa đổi, bổ sung 2009
Luật số 36/2009/QH12 của Quốc hội Việt Nam, thông qua ngày 19 tháng 6 năm 2009, để sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam 2005. Luật này có hiệu lực từ ngày 1 tháng 1 năm 2010.
Phần thứ nhất: Những quy định chung (Điều 1 - 12)
Phần thứ hai: Quyền tác giả và Quyền liên quan (Điều 13 - 57)
Phần thứ ba: Quyền sở hữu công nghiệp (Điều 58 - 156)
Phần thứ tư: Quyền đối với giống cây trồng (Điều 157 - 197)
Phần thứ năm: Bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ (Điều 198 - 219)
Phần thứ sáu: Điều khoản thi hành (Điều 220 - 222)
---
Phần thứ nhất
Điều 2. Đối tượng áp dụng
Luật này áp dụng đối với tổ chức, cá nhân Việt Nam; tổ chức, cá nhân nước ngoài đáp ứng các điều kiện quy định tại Luật này và điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.
Điều 3. Đối tượng quyền sở hữu trí tuệ
Đối tượng quyền tác giả bao gồm tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học; đối tượng quyền liên quan đến quyền tác giả bao gồm cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hoá.
[...]
Điều 4. Giải thích từ ngữ
Trong Luật này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:
1. Quyền sở hữu trí tuệ là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tài sản trí tuệ, bao gồm quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng.
2. Quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu.
3. Quyền liên quan đến quyền tác giả (sau đây gọi là quyền liên quan) là quyền của tổ chức, cá nhân đối với cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hóa.
[...]
Điều 6. Căn cứ phát sinh, xác lập quyền sở hữu trí tuệ
Quyền tác giả phát sinh kể từ khi tác phẩm được sáng tạo và được thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định, không phân biệt nội dung, chất lượng, hình thức, phương tiện, ngôn ngữ, đã công bố hay chưa công bố, đã đăng ký hay chưa đăng ký.
[...]
Phần thứ hai, Chương II
Mục 1. NỘI DUNG, GIỚI HẠN QUYỀN, THỜI HẠN BẢO HỘ QUYỀN TÁC GIẢ
Điều 18. Quyền tác giả
Quyền tác giả đối với tác phẩm quy định tại Luật này bao gồm quyền nhân thân và quyền tài sản.
Điều 19. Quyền nhân thân
Quyền nhân thân bao gồm các quyền sau đây:
1. Đặt tên cho tác phẩm;
2. Đứng tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm; được nêu tên thật hoặc bút danh khi tác phẩm được công bố, sử dụng;
3. Công bố tác phẩm hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm;
4. Bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm, không cho người khác sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả.
Điều 20. Quyền tài sản
Quyền tài sản bao gồm các quyền sau đây:
a) Làm tác phẩm phái sinh;
b) Biểu diễn tác phẩm trước công chúng;
c) Sao chép tác phẩm;
d) Phân phối, nhập khẩu bản gốc hoặc bản sao tác phẩm;
đ) Truyền đạt tác phẩm đến công chúng bằng phương tiện hữu tuyến, vô tuyến, mạng thông tin điện tử hoặc bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào khác;
e) Cho thuê bản gốc hoặc bản sao tác phẩm điện ảnh, chương trình máy tính.
Các quyền quy định tại khoản 1 Điều này do tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả độc quyền thực hiện hoặc cho phép người khác thực hiện theo quy định của Luật này.
Tổ chức, cá nhân khi khai thác, sử dụng một, một số hoặc toàn bộ các quyền quy định tại khoản 1 Điều này và khoản 3 Điều 19 của Luật này phải xin phép và trả tiền nhuận bút, thù lao, các quyền lợi vật chất khác cho chủ sở hữu quyền tác giả.
----
Và dưới đây là cách hiểu của tôi. Nếu tôi hiểu sai, diễn giải sai luật, xin mọi người góp ý nhé. Xin nói trước: tôi không phải là luật gia, luật sư chi cả, chỉ là một công dân cố gắng sống và làm việc theo pháp luật. Như nhà nước VN vẫn kêu gọi. Vả lại, tôi đang là viên chức, làm việc trong khu vực công, lại là giảng viên, nên phải cố gắng sống đúng pháp luật, không thể khác được.
1. Bài đọc trong đề thi, nếu không phải do người làm đề thi tự viết ra, thì rõ ràng phải lấy của người khác.
2. Đoạn văn dùng làm bài đọc đó chắc chắn phải lấy trong 1 tác phẩm văn học, tác phẩm/công trình khoa học, hoặc từ báo chí - chà, mà không hiểu các bài báo được liệt vào loại nào nhỉ, tác phẩm văn học, hay công trình khoa học(?), hay tác phẩm nghệ thuật? Nhưng dù gì thì chúng cũng là những tác phẩm có tác giả hẳn hoi (dù khuyết danh, hay hữu danh).
3. Các tác giả của các tác phẩm, công trình này đều được bảo hộ bởi luật sở hữu trí tuệ của VN.
4. Như vậy, các tác giả này có các quyền được nêu trong điều 18, tức quyền nhân thân và quyền tài sản.
5. Xin được nhắc lại về quyền nhân thân: quyền đứng tên trên tác phẩm (tức ai sử dụng phải dẫn nguồn), công bố hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm (tức ai muốn công bố ở đâu đều phải xin phép), bảo vệ vẹn toàn của tác phẩm (tức không cho phép ai sửa chữa, cắt xén ...)
6. Cũng xin nhắc về quyền tài sản: ai muốn sử dụng phải trả thù lao (khoản này có thể miễn nếu dùng vào mục đích cá nhân, hoặc phi lợi nhuận, nhưng phải thỏa thuận với tác giả).
Như vậy, chỉ cần áp dụng luật VN thôi, thì đã có thể kết luận được về vấn đề GS Tuấn đặt ra rồi, phải không?
Có lẽ không cần tranh cãi nữa. Như tôi đã nói trên báo TN, chúng ta cần nghiêm túc rút kinh nghiệm và sửa sai để sau này không xảy ra những vụ như thế này nữa. Thử nghĩ, nếu ai đó đem ta ra kiện vì vi phạm quyền sở hữu trí tuệ thì sao nhỉ?
Cũng cần nhớ, Luật này được xây dựng vào năm 2005 để chuẩn bị cho VN gia nhập WTO. Cho nó giống với mọi người, vì nếu một mình VN một luật thì chẳng ai chơi với mình. Sau đó, khi áp dụng thấy có những chỗ chưa ổn, Luật SHTT đã được bổ sung, sửa chữa năm 2009 và áp dụng đầu năm 2010 (mà tôi đã trích dẫn ở trên).
Chẳng lẽ luật chỉ để cho có sao? Hay là được gia nhập WTO rồi thì không cần đến luật nữa?